NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN, PHỔ BIẾN PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG
(08:01 | 11/05/2020)

Thực hiện Chỉ thị số 32-CT/TW ngày 9/2/2003 và Kết luận số 04-KL/TVV ngày 19/4/2011 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về việc tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 32-CT/TVV về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân (sau đây gọi tắt là Kết luận số 04-KL/ TW), Tổng LĐLĐ Việt Nam đã triển khai tuyên truyền, phổ biến pháp luật lao động cho NLĐ và đã ban hành Nghị quyết số 4b/NQ-TLĐ ngày 15/7/2014 của BCH Tổng LĐLĐ Việt Nam (khóa XI) về nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật trong CNVCLĐ trong tình hình mới (sau đây gọi tắt là Nghị quyết số 4b/NQ-TLĐ). Các cấp công đoàn đã xây dựng kế hoạch thực hiện Nghị quyết số 4b/NQ-TLĐ. Với sự triển khai đồng bộ nên công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật nói chung và pháp luật lao động nói riêng của các cấp công đoàn đã có những kết quả nhất định. Nhận thức của các cấp công đoàn về vai trò, tầm quan trọng của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật lao động đã được nâng lên và được xác định là một bộ phận của công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho đoàn viên, CNVCLĐ. Hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật lao động không ngừng được đổi mới, nội dung đã bám sát và phục vụ kịp thời việc triển khai thực hiện các nhiệm vụ chính trị ở địa phương, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp, từng bước khắc phục được tính hình thức, góp phần xây dựng quan hệ lao động ổn định, hài hòa, tiến bộ tại các doanh nghiệp.

Tuy nhiên, NLĐ và người sử dụng  lao động (NSDLĐ) chưa chấp hành đúng quy định của pháp luật lao động. Còn nhiều doanh nghiệp chưa xây dựng nội quy lao động; chưa xây dựng thang lương, bảng lương, lập sổ lương, sổ quản lý lao động theo quy định; chưa tổ chức đối thoại với NLĐ; chưa xây dựng và ký kết TƯLĐTT; chưa xây dựng kế hoạch thực hiện công tác ATVSLĐ; tình trạng nợ hoặc chậm đóng BHXH còn xảy ra khá phổ biến. NLĐ còn vi phạm kỷ luật lao động hoặc không tự bảo vệ được quyền lợi chính đáng, hợp pháp của mình. Phần đông NLĐ phổ thông, tuổi đời còn trẻ, trình độ, nhận thức, hiểu biết về pháp luật còn thấp. Do đó, một số NLĐ  bị doanh nghiệp xâm phạm các quyền và lợi ích hợp pháp mà không biết tự bảo vệ mình, phải chịu thiệt thòi trong quan hệ lao động. Một trong những nguyên nhân dẫn đến NLĐ và NSDLĐ chưa chấp hành đúng quy định của pháp luật lao động là cơ chế giải quyết tranh chấp lao động theo quy định của pháp luật chưa thực sự đi vào đời sống; NLĐ, NSDLĐ hoặc không nắm được luật lao động hoặc không thực hiện theo quy định của luật lao động; việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật lao động của các cấp công đoàn chưa thực sự chủ động, chưa tập trung, còn dàn trải, mang tính phong trào; quy định về sự phối hợp và thực tế phối hợp giữa Công đoàn với các cơ quan, tổ chức chủ trì và tham gia hoạt động tuyên truyền, phổ biến pháp luật lao động còn chưa rõ ràng, chưa chặt chẽ.

Để khắc phục những hạn chế trên, đồng thời để thực hiện tốt Nghị quyết số 4b/NQ-TLĐ, cần có giải pháp sau:

Thứ nhất, công đoàn cẩn xác định rõ đối tượng cẩn tuyên truyền, phổ biến pháp luật lao động là NLĐ. Trong Chương trình hành động ban hành theo Quyết định số 409/QĐ-TTg ngày 09/4/2012 của Thủ tướng Chính phủ thực hiện Kết luận số 04-KL/TW thì Công đoàn là thành viên tham gia xây dựng kế hoạch để triển khai thực hiện tuyên truyền, phổ biến pháp luật cho NLĐ và NSDLĐ trong các loại hình doanh nghiệp. Thực hiện nhiệm vụ này, các cấp công đoàn cần tập trung tuyên truyền, phổ biến pháp luật cho NLĐ bởi các lí do sau: Một là, nguyên nhân chính khiến NLĐ vi phạm kỷ luật lao động, không tự bảo vệ được quyền lợi chính đáng, hợp pháp của mình là do xuất thân từ nông thôn, bị ảnh hưởng nặng nề bởi tác phong lao động nông nghiệp, thủ công; sự hiểu biết về chính sách, pháp luật hạn chế nên dễ vi phạm kỷ luật lao động, dễ bị kích động, tham gia đình công, biểu tình không đúng quy định của pháp luật; hai là, theo quy định của luật lao động, Công đoàn có quyền và có trách nhiệm trong việc tuyên truyền, vận động, giáo dục NLĐ thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước liên quan đến Công đoàn, NLĐ; ý thức chấp hành pháp luật, nội quy, quy chế của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp theo quy định của luật lao động; ba là, trách nhiệm tuyên truyền, phổ biến pháp luật cho NSDLĐ chủ yếu là các cơ quan quản lý nhà nước về lao động và tổ chức đại diện NSDLĐ.

Thứ hai, Công đoàn cần chủ động truyên truyền, tổ chức lấy ý kiến của NLĐ về những đề án luật liên quan đến quyển, lợi ích của NLĐ. Pháp luật lao động thường liên quan trực tiếp đến việc làm, đời sống, quan hệ lao động của NLĐ, NSDLĐ và các cơ quan quản lý nhà nước về lao động, vì vậy cần có sự tham gia của tổ chức Công đoàn, NLĐ ngay từ khi còn dự thảo, đặc biệt là những vấn đề mới. Điều đó sẽ giúp cho NLĐ hiểu pháp luật, tham gia xây dựng và thực hiện pháp luật. Khi luật được ban hành, Công đoàn cần tuyên truyền cho NLĐ biết lý do ban hành, căn cứ khoa học và thực tiễn ban hành luật (hoặc luật sửa đổi), tránh sự hiểu không đúng của NLĐ.

Thứ ba, cần xác định rõ nội dung tuyên truyền, phổ biến pháp luật lao động cho NLĐ một cách cụ thể, tránh chung chung. Nội dung tuyên truyền, phổ biến pháp luật lao động cho NLĐ cần tập trung vào các nội dung thiết yếu liên quan trực tiếp đến quyền, trách nhiệm của NLĐ và NSDLĐ trong quan hệ lao động, cần tập trung tuyên truyền, phổ biến nội dung thiết thực, tránh quá nhiều nội dung, cụ thể là: quyền và nghĩa vụ trong việc ký hợp đổng lao động, chấp hành nội quy, quy chế, kỷ luật lao động; đóng và theo dõi việc thực hiện BHXH, BHYT; quyền lợi của NLĐ làm việc trong môi trường độc hại, lao động nữ; giữ gìn vệ sinh môi trường; giữ gìn an ninh trật tự, an toàn xã hội nơi làm việc, nơi ở và sinh hoạt; nghĩa vụ của NSDLĐ.

Thứ tư, đổi mới các hình thức tuyên truyền, phổ biến pháp luật lao động cho NLĐ. Cần đổi mới các hình thức tuyên truyền, phổ biến pháp luật lao động cho phù hợp với từng đối tượng, điều kiện làm việc và sinh hoạt, khả năng nhận thức và tâm lý của NLĐ. Đối với NLĐ, cần tuyên truyền nội dung cần thiết, cô đọng, dễ hiểu, dễ nhớ, dễ thực hiện... Vì vậy, phải tổ chức biên tập nội dung, các quy định của pháp luật, tránh dài dòng và sử dụng thuật ngữ rắc rối; đa dạng hóa các hình thức như: phát hành tờ rơi, tổ chức tập huấn, tọa đàm, nói chuyện chuyên đề, thi tìm hiểu pháp luật, bảng tin, truyền thanh nội bộ, lồng ghép vào các chương trình truyền thanh, truyền hình... Thời gian, địa điểm tổ chức tuyên truyền cần phù hợp (vào lúc làm việc, khi nghỉ giữa ca hoặc ăn trưa, các hoạt động tập thể khác...; tại nơi làm việc, cổng doanh nghiệp, cổng KCN, khu ở, khu ở trọ của NLĐ...). Đồng thời việc tổ chức tuyên truyền, phổ biến pháp luật lao động cho NLĐ phải tiến hành thường xuyên, bền bỉ, tránh đầu hình thức.

Thứ năm, đẩy mạnh phối hợp giữa tổ chức công đoàn và các cơ quan chức năng tuyên truyền, phổ biến pháp luật lao động. Các cấp công đoàn cần phối hợp chặt chẽ với cơ quan quản lý nhà nước về lao động đồng cấp trong việc xây dựng kế hoạch tuyên truyền, phổ biến pháp luật cho NLĐ, trong đó cần cụ thể hóa về: phân công trách nhiệm của từng tổ chức; tổ chức chủ trì, tổ chức cùng phối hợp; đối tượng cần tuyên truyền, nội dung tuyên truyền; thời gian; địa điểm; kinh phí; chế độ thông tin, báo cáo...

Tóm lại, để tiếp tục tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật nói chung, pháp luật lao động nói riêng đối với NLĐ là trách nhiệm của các cấp công đoàn. Tuy nhiên để nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật lao động của công đoàn trong điều kiện hiện nay cần có giải pháp mang tính đột phá nhằm phát huy những kết quả đạt được trong thời gian qua, đặc biệt là khắc phục những hạn chế khó khăn của công tác này.

BTG